Nhiếp ảnh cơ bản: Học chụp cho người mới Bắt đầu

Học chụp ảnh cho người mới bắt đầu

Máy ảnh mới nhìn qua có vẻ là một thiết bị phức tạp, nhưng thực ra thì nó … phức tạp thật 😛.

Nếu bạn là người lần đầu sử dụng máy ảnh và cảm thấy “lạc lối” trong hàng tá chức năng của nó, thì bài viết này là dành cho bạn.

Dù là máy ảnh DSLR hay Mirrorless, cảm biến Full Frame hay Crop thì nguyên tắc để bắt đầu là tương tự nhau.

Khác với những thiết bị chụp ảnh tự động như điện thoại, máy ảnh PNS,… bạn sẽ phải học cách kiểm soát độ sáng của ảnh, vùng lấy nét, màu sắc,… để cho ra bức ảnh tốt nhất.

Ở bài viết này, mình đã sắp xếp lại các kiến thức theo một thứ tự hợp lý để mọi người theo dõi được dễ dàng và đầy đủ. Bắt đầu thôi!

Phơi sáng

Chapter 1: Phơi sáng

Chế độ chụp

Chapter 2: Chế độ chụp

Lấy nét

Chapter 4: Lấy nét

Chapter 6: Bố cục

Chapter 1. Phơi sáng – Exposure

Hình bên dưới minh họa cấu tạo cơ bản của một chiếc máy ảnh và cách nó tái tạo hình ảnh. Nếu bạn chưa hình dung ra thì khối đen trong hình là mặt cắt của một chiếc máy ảnh.

Ở trạng thái bình thường, ánh sáng đi qua ống kính, phản xạ qua các gương rồi đi đến ống ngắm, tức Viewfinder. Lúc này bạn có thể quan sát bằng ống ngắm để thấy trong khung hình có những gì.

Khi bấm chụp, gương di chuyển lên trên theo hướng mũi tên (nên còn gọi là gương lật) để ánh sáng tiếp tục đi vào bên trong.

Tiếp theo màn trập mở ra cho phép ánh sáng đi vào cảm biến, ghi lại hình ảnh. Thời gian mở màn trập thường rất ngắn và được định trước.

Từ cách hoạt động này, có ba cách để ảnh hưởng đến độ sáng của hình ảnh thu được:

  1. Tại ống kính, có thể điều chỉnh khẩu độ
  2. Tại màn trập, có thể điều chỉnh tốc độ màn trập
  3. Tại cảm biến, có thể điều chỉnh ISO

Ba yếu tố: khẩu độ, tốc độ màn trập, ISO kết hợp với nhau để tạo ra một phơi sáng, kết quả của một quá trình phơi sáng là một bức ảnh.

Bạn sẽ gặp đi gặp lại ba yếu tố này rất nhiều trong series học chụp ảnh này.

1. Khẩu độ – Aperture

Nhìn vào bên trong ống kính, bạn có thể thấy các lá kim loại lồng vào nhau tạo thành một lỗ hổng ở giữa. Lỗ hổng này cho phép ánh sáng đi vào bên trong.

Khẩu độ mở và đóng

Độ rộng của lỗ hổng này gọi là khẩu độ và nó có thể thay đổi bằng cách đóng mở các lá kim loại, hay còn gọi là lá khẩu.

Thay đổi khẩu độ ảnh hưởng đến độ sáng của ảnh: khẩu độ mở càng lớn, lượng ánh sáng vào càng nhiều, ảnh càng sáng và ngược lại.

Giá trị của khẩu độ là các số đặc biệt: f/1.4 – f/2 – f/2.8 – f/4 – f/5.6 – f/8 – f/11 -f/16 – f/22. Người ta có thể bỏ dấu / đi và viết hoa chữ F, ví dụ F1.4, F2.

  • Số dưới f càng bé thì khẩu độ càng lớn. Trong dãy trên khẩu độ lớn nhất là f/1.4.
  • Số dưới f càng lớn thì khẩu độ càng nhỏ. Trong dãy trên khẩu độ nhỏ nhất là f/22.

Các giá trị trong dãy trên là các giá trị đặc biệt của khẩu độ, khoảng cách giữa chúng là 1 stop. Hơn 1 stop tức là cho độ sáng gấp đôi, ví dụ tại f/1.4 cho độ sáng gấp đôi f/2, f/2 cho độ sáng gấp đôi f/2.8.

Thực tế thì bạn có thể điều chỉnh đến các giá trị xen giữa các giá trị đặc biệt này. Chẳng hạn f/1.8, f/2.2, f/2.6,…

Tùy từng lens (ống kính) sẽ có phạm điều chỉnh khẩu độ khác nhau.

Ví dụ: tên lens Nikkor 85mm F1.8 thì khẩu độ lớn nhất mà lens này có thể đạt được là f/1.8. Tương tự, lens Sony FE 16-35 F2.8 có khẩu độ lớn nhất tại f/2.8

Ghi nhớ: Số dưới f càng nhỏ → Khẩu độ càng lớn → Ánh sáng vào càng nhiều → Ảnh càng sáng. Và ngược lại.

Ngoài ảnh hưởng đến độ sáng, thay đổi khẩu độ còn làm thay đổi độ sâu trường ảnh, tức là độ sâu của vùng được lấy nét.

Khẩu độ càng mở lớn, độ sâu trường ảnh càng hẹp, vùng lấy nét càng nhỏ, các thành phần nằm ngoài vùng lấy nét sẽ bị mờ đi, hay còn gọi là bị “xóa phông”.

Đọc thêm về độ sâu trường ảnh ở đây.

2. Tốc độ màn trập – Shutter Speed

Ánh sáng sau khi đi qua ống kính, tiếp tục đi tới màn trập. Màn trập có tác dụng đóng mở nhanh chậm để xác định lượng ánh sáng sẽ tiếp tục đi vào cảm biến.

Bạn có thể tưởng tượng khẩu độ giống như đường kính của ống nước, còn màn trập là một cái van khóa. Van mở càng lâu thì nước chảy vào nhiều, van mở trong thời gian ngắn thì nước chảy vào ít.

Tương tự ta có, nếu tốc độ màn trập càng ngắn (nhanh) thì ánh sáng đi vào sẽ ít. Nếu mở lâu thì ánh sáng đi vào nhiều.

Tốc độ màn trập
Ảnh hưởng của tốc độ màn trập đến độ phơi sáng

Giá trị của tốc độ màn trập có thể từ 1/4000s, 1/2000s cho tới hàng chục giây. Trường hợp đặc biệt chụp phơi sáng có thể để màn trập mở hàng giờ.

Hiệu ứng khác của tốc độ màn trập là motion blur. Đối với các đối tượng chuyển động, nếu ta muốn đóng băng chuyển động đó và chụp nét thì cần một tốc độ màn trập đủ nhanh.

Đối với chụp street đời thường thì có thể set tối thiểu giá trị 1/125s để ảnh không bị mờ do chuyển động. Chụp thể thao với các chuyển động cực nhanh thì cần tốc độ nhanh hơn nhiều, ví dụ 1/1000s hay 1/2000s hoặc nhanh hơn nữa.

3. Độ nhạy sáng ISO

Cảm biến là lớp cuối cùng tiếp nhận ánh sáng và tái tạo hình ảnh. Tại đây bạn có thể điều chỉnh một thuộc tính là ISO.

ISO có phần đơn giản hơn hai yếu tố còn lại về mặt trị số, tăng giá trị lên thì độ phơi sáng cũng sẽ tăng.

ISO

Tuy vậy, ISO còn có một “tác dụng phụ” khác là noise, hay nhiễu ảnh. ISO tăng càng cao, ảnh càng bị noise, và ngược lại.

Do vậy người ta luôn muốn chụp với ISO thấp nhất có thể để giữ ảnh ở chất lượng tốt nhất.

Ở điều kiện thời tiết đẹp, có nắng, có thể để ISO 100 – 200. Khi trời tối, trong điều kiện thiếu sáng, cần đẩy ISO cao lên để hấp thụ ánh sáng tốt hơn.

Kết hợp ba yếu tố

Ảnh đúng sáng là ảnh không bị mất chi tiết do quá sáng hoặc quá tối.

Do mỗi yếu tố khẩu độ, ISO, tốc độ màn trập còn tạo ra một hiệu ứng riêng:

  • Khẩu độ ảnh hưởng đến độ sâu trường ảnh
  • ISO ảnh hưởng đến độ nhiễu
  • Tốc độ màn trập ảnh hưởng đến motion blur

Nên ta cần phải lựa chọn các giá trị phù hợp của ba yếu tố này cho từng trường hợp cụ thể, để ảnh được đúng sáng và đúng mục đích.

Trên các máy ảnh kỹ thuật số hiện đại đều có một công cụ đo sáng hiển thị trên màn hình. Nó có dạng như một trục số.

Dựa vào thước đo sáng này, ta có thể biết được các thông số đang thiết lập có cho ảnh đúng sáng hay không.

Lưu ý: thước đo sáng này chỉ hoạt động trong chế độ thủ công, hay chế độ M. Trong các chế độ auto và ưu tiên (sẽ được nói đến ở Chapter 2), do máy ảnh đã tự động cân bằng các yếu tố nên kim sẽ luôn chỉ ở chính giữa, ảnh luôn được cho là đúng sáng.

Trong phần này, mình giả định đang sử dụng chế độ M để các bạn dễ hiểu về cách kết hợp các yếu tố. Nếu bạn chưa biết chuyển sang chế độ M, hãy đọc hướng dẫn sử dụng của máy.

Giả sử bạn chụp chân dung ngoài trời, mục đích là chụp xóa phông.

Chụp xóa phông liên quan đến độ sâu trường ảnh, do đó cần ưu tiên mở khẩu độ lớn. Bạn có thể chọn giá trị khẩu độ như F2.8, F4.

Do chụp ngoài trời có nhiều ánh sáng, bạn có thể để ISO từ 100 – 400 để ảnh không bị nhiễu quá nhiều.

Sau khi chọn được hai giá trị cơ sở cho hai yếu tố, còn lại là tốc độ màn trập. Lúc này chỉ cần điều chỉnh sao cho kim đo sáng đạt chính giữa là được *.

Nếu background đang bị xóa quá mạnh, bạn có thể điều chỉnh khép khẩu độ lại. Khép khẩu đồng nghĩa với ánh sáng bị giảm bớt.

Cần phải tăng ISO hoặc giảm tốc độ màn trập xuống để tăng sáng bù lại phần ánh sáng bị giảm đi do khép khẩu.

(*) xác định việc ảnh đúng sáng hay không bằng thước đo sáng chỉ là tương đối. Nếu bạn là người mới, hãy tạm coi đó là kết quả chuẩn.

Chapter 2. Các chế độ chụp

Sau khi nắm được nguyên tắc phơi sáng, phần tiếp theo là học cách sử dụng các chế độ chụp có trong máy ảnh.

Các chế độ chụp

Các chế độ chụp của các hãng máy ảnh khác nhau có thể khác nhau về số lượng và tên gọi, nhưng thường đều có 4 chế độ (mode):

  1. Full-Auto: Tự động điều chỉnh tất cả thông số dựa vào tính toán của máy. Đọc xong series này thì anh em có thể tự tin vứt bỏ mode này được rồi.
  2. Aperture Priority – AP: Chế độ chụp ưu tiên khẩu độ. Bạn chỉ cần set trước khẩu độ, tốc độ màn trập và ISO sẽ được tự động tính để cho ra kết quả đúng sáng.
  3. Shutter Priority – SP: Hoạt động tương tự như chế độ ưu tiên khẩu độ như áp dụng cho tốc độ màn trập.
  4. Manual: Chỉnh tay tất cả các thông số.

Lưu ý là tên gọi của các chế độ AP và SP có thể khác nhau tùy theo hãng nhưng chức năng thì vẫn như trên. Bạn cần đọc hướng dẫn sử dụng máy ảnh để biết chính xác.

Mỗi chế độ chụp được sử dụng trong các trường hợp khác nhau, hoặc theo ý thích chủ quan của mỗi người.

Mình dùng mode AP khá nhiều. Khi ánh sáng đủ tốt, ví dụ một ngày trời đẹp, quang mây, và mục đích là chụp cảnh hay chân dung, thì ta không cần quan tâm quá nhiều đến tốc độ màn trập nữa.

Chỉ cần ưu tiên set khẩu cho đúng mục đích chụp, ISO vừa phải, còn tốc độ màn trập có thể để máy ảnh tự tính. Khi đó ta có thể chụp rất nhanh vì không phải điều chỉnh nhiều.

Tóm lại, nắm được nguyên tắc đo sáng và các hiệu ứng tạo ra từ 3 yếu tố thì bạn sẽ biết cách sử dụng các chế độ này sao cho hợp lý.

Tìm hiểu thêm về các chế độ chụp, ưu và nhược điểm, khi nào nên sử dụng.

Chapter 3: Các chế độ đo sáng

Cách máy ảnh xác định ảnh đúng sáng trong các chế độ tự động hay thước đo sáng trong chế độ thủ công cho ra kết quả tương đối.

Để kết quả đo sáng đúng với yêu cầu, bạn cần sự trợ giúp của các chế đo sáng.

Đối với những trường hợp thông thường khi trong khung hình không có sự chênh lệch lớn về cường độ sáng giữa các vùng, máy ảnh có thể đoán được một kết quả đúng sáng là như thế nào.

Nhưng với những khung hình có độ chênh lệch cường độ sáng lớn, ví dụ khi chụp ngược sáng, ta cần phải chọn một chế độ đo sáng phù hợp để ra lệnh cho máy ảnh biết đo sáng vào vùng nào là tốt nhất.

Ví dụ nếu muốn đo sáng dựa vào chủ thể thì bạn phải sử dụng chế độ đo sáng điểm – Spot Metering Mode. Chế độ này sẽ đo sáng dựa vào một điểm xác định trước và bỏ qua phần còn lại của khung hình.

Ngoài chế độ đo sáng điểm, máy ảnh kỹ thuật số còn có nhiều chế độ đo sáng khác, cho các điều kiện ánh sáng khác nhau.

Tìm hiểu về các chế độ đo sáng của máy ảnh.

Chapter 4: Lấy nét

Có hai cách để lấy nét trên máy ảnh:

  1. AF – Auto Focus: Tự động lấy nét. Bạn xác định điểm hoặc vùng lấy nét trên khung hình bằng cách di chuyển điểm lấy nét và bấm hờ nút chụp.
  2. MF – Manual Focus: Lấy nét thủ công. Khi máy ảnh không thể nhận diện được điểm lấy nét, hoặc lấy nét nhầm, ta phải dùng ring trên lens để điều chỉnh khoảng lấy nét bằng tay.

Lấy nét tự động – AF

Với AF, thường có hai chế độ là AF-S và AF-C.

AF-S (S trong Single): Đây là chế độ lấy nét được sử dụng nhiều nhất. Nếu đối tượng lấy nét không chuyển động, bạn chỉ cần đưa điểm lấy nét vào đối tượng, bấm nửa nút chụp để lấy nét và bấm nốt nửa còn lại để chụp.

AF-C (C trong Continuous): Đây là chế độ lấy nét được sử dụng khi chụp các đối tượng chuyển động. Khi bạn bấm nửa nút chụp, máy ảnh sẽ ghi nhớ đối tượng và tiếp tục bám theo nó trong khung hình để lấy nét. Dùng mode này để hạn chế tối đa khả năng out net khi đối tượng di chuyển.

Lấy nét thủ công – MF

Trên lens có một vòng lấy nét được dùng cho việc lấy nét thủ công. Bằng cách nhìn qua khung ngắm và xoay vòng lấy nét này, bạn có thể điều chỉnh được khoảng cách lấy nét cho đúng.

Không phải lúc nào AF cũng làm tốt công việc của mình, và những lúc như thế chúng ta phải sử dụng MF. Một số trường hợp mà AF bất lực còn MF thể hiện được vai trò:

  • Đối tượng lấy nét có độ tương phản thấp, máy ảnh chịu không nhận diện được.
  • Đối tượng lấy nét bị vật cản, chẳng hạn như tấm lưới. AF không chịu bắt nét vào phía sau và toàn đè tấm lưới mà chịch.
  • Nếu bạn đã chọn được một khung hình, chỉ đợi đối tượng di chuyển vào đúng chỗ là chụp, cách tốt nhất là dùng MF định sẵn vị trí lấy nét.

Tìm hiểu về lấy nét.

Chapter 5: Cân bằng trắng

Điều chỉnh cân bằng trắng giúp đem lại hình ảnh có màu sắc chân thực nhất, phù hợp với cảm quan. Cân bằng trắng là một thiết lập quan trọng nhưng thường bị bỏ quên.

Đa số mọi người thường để Auto White Balance, tức là máy ảnh tự động điều chỉnh cân bằng trắng cho phù hợp.

Trong điều kiện ánh sáng tốt, Auto White Balance có thể cho ra kết quả sát với thực tế. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, nó trở nên bất lực, không thể trả lại màu sắc thực tế nhất, ảnh bị ám tím, ám vàng,…

Ví dụ khi trong khung hình có một phần nắng và một phần bóng râm, máy ảnh thường tăng độ lạnh cho màu sắc để cân bằng lại màu nắng trong khung hình, làm phần bóng râm bị ám xanh.

Hiểu về WB, ta có thể điều chỉnh tone màu sắc của ảnh theo cảm nhận của mình. Nếu bạn không chụp ảnh RAW mà chỉ chụp JPEG thì càng nên lưu ý, vì khả năng hậu kỳ với ảnh JPEG là hạn chế.

Tìm hiểu về cân bằng trắng.

Chapter 6: Bố cục cơ bản

Điểm khác biệt giữa ảnh “thường thường” và ảnh đẹp là ảnh đẹp chứa đựng nội dung, câu chuyện hay truyền tải được cảm xúc. Biết cách sắp xếp bố cục sẽ giúp bạn làm được điều đó.

Mình đã có một bài viết về các quy tắc bố cục cơ bản cho người mới bắt đầu. Từ quy tắc nổi tiếng như 1/3, sử dụng đường dẫn, cho đến negative space hay framing đều được trình bày cùng với các ví dụ.

Các quy tắc này không cần phải sử dụng riêng rẽ. Bạn cần quan sát kỹ khung hình, từ những nguyên liệu có sẵn, có thể thử một hoặc nhiều quy tắc để xem cách nào đạt được hiệu quả tốt nhất.

Hiểu biết về các quy tắc cơ bản này cũng chính là cơ sở để anh em phá vỡ chúng, tạo ra những bố cục mới, phù hợp hơn với từng trường hợp cụ thể.

Trên đây là những kiến thức cơ bản về nhiếp ảnh dành cho người mới. Hi vọng nội dung mà mình diễn giải là “dễ tiêu” cho tất cả mọi người. Còn đây là một số bài viết có thể đọc thêm sau khi hoàn tất series:

Chúc anh em có nhiều ảnh đẹp. Mọi câu hỏi hay đề nghị hãy còm men bên dưới nhé.

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of