Nhiếp ảnh cơ bản: Học chụp cho người mới

Đây là một series với hệ thống các kiến thức cơ bản về nhiếp ảnh dành cho người mới bắt đầu.

Dù là máy ảnh DSLR hay Mirrorless, follow trình tự này là cách tốt nhất để bạn làm chủ chiếc máy ảnh của mình.

Phần 1. Phơi sáng – Exposure

Khi bạn bấm nút chụp ảnh chính là vừa thực hiện một thao tác phơi sáng. Để hiểu thêm về điều này, ta sẽ bắt đầu với cách một chiếc máy ảnh hoạt động.

Mặt cắt ngang của một chiếc máy ảnh SLR

Ở hình bên trái là trạng thái bình thường của một chiếc máy ảnh SLR. Ánh sáng đi vào, qua ống kính, phản chiếu lên tấm gương và khối lăng trụ rồi đi lên ống ngắm (viewfinder). Nhờ vậy mà ta quan sát được những gì có thể chụp.

Hình bên phải – Khi bấm nút chụp, gương sẽ bị lật lên, ánh sáng không bị phản chiếu mà đi thẳng vào trong, màn trập (shutter) được mở ra để ánh sáng lọt qua trong một khoảng thời gian định trước. Cuối cùng là lưu lại hình ảnh trên cảm biến (sensor).

Đây là cách hoạt động của một chiếc DSLR, còn với máy ảnh Mirrorless thì không cần sử dụng gương lật.

Nhưng dù là máy ảnh gì thì nguyên tắc tạo ra hình ảnh của chúng cũng đều như nhau:

Ánh sáng đi từ ống kính vào, đi qua màn trập, và cuối cùng là được “hứng” trên cảm biến.

Tại ba vị trí này, có ba yếu tố tương ứng ảnh hưởng đến độ phơi sáng, hay độ sáng của bức ảnh:

  • Tại ống kính là Khẩu độ.
  • Tại màn trập là Tốc độ màn trập.
  • Tại cảm biến là Độ nhạy sáng ISO.

Mỗi yếu tố kể trên không chỉ ảnh hưởng đến độ phơi sáng mà còn có những tác dụng khác. Do vậy, bạn cần nắm được chúng để biết cách phối hợp sao cho đúng mục đích.

1. Khẩu độ (Aperture)

Bắt đầu với yếu tố đầu tiên là khẩu độ. Nhìn vào bên trong ống kính, bạn có thể thấy được một lỗ hổng được tạo ra bởi các lá kim loại.

Khẩu độ

Độ rộng của lỗ hổng này gọi là khẩu độ, các lá kim loại gọi là lá khẩu. Việc đóng mở các lá khẩu ảnh hưởng đến độ rộng của lỗ hổng, hay làm thay đổi khẩu độ.

Khẩu độ ảnh hưởng đến hai thứ cùng lúc là độ phơi sáng và độ sâu trường ảnh. Phần này, chúng ta sẽ quan tâm đến việc khẩu độ ảnh hưởng thế nào đến độ phơi sáng trước.

Khẩu độ càng lớn, thì ánh sáng đi vào càng nhiều. Với điều kiện tốc độ màn trập và ISO không thay đổi, tăng khẩu độ sẽ làm ảnh sáng hơn, giảm khẩu độ sẽ làm ảnh tối đi.

Trên vòng chỉnh khẩu độ ở lens, các bạn sẽ thấy dãy các số: 1.4, 2, 2.8, 4, 5.6, 8, 11, 16, 22….

Ứng với chúng là các giá trị của khẩu độ tại f/1.4, f/2, f/2.8, f/4, f/5.6, f/8, f/11, f/16, f/22. Có trường hợp người ta bỏ dấu / đi và viết hoa F, ví dụ F1.4, F2.

  • Số dưới f càng bé thì khẩu độ càng lớn. Trong dãy trên khẩu độ lớn nhất là f/1.4.
  • Số dưới f càng lớn thì khẩu độ càng bé. Trong dãy trên khẩu độ nhỏ nhất là f/22.

Trong tên của lens, người ta chỉ ghi khẩu độ lớn nhất của lens. Ví dụ lens Nikkor 85mm f/1.8 thì khẩu độ lớn nhất mà lens có thể đạt được là f/1.8.

Một cách dễ để nhớ sự biến đổi có vẻ phức tạp này là: Mẫu số càng lớn thì giá trị của nó càng nhỏ và ngược lại – như toán phân số thời cấp 1 luôn.

Ghi nhớ: Số dưới f càng nhỏ → Khẩu độ càng lớn → Ánh sáng vào càng nhiều → Ảnh càng sáng. Và ngược lại.

Ngoài ảnh hưởng đến độ phơi sáng, thay đổi khẩu độ còn làm thay đổi độ sâu trường ảnh. Người mới nên nắm bắt sự kết hợp của ba yếu tố trước, rồi mới tìm hiểu về các ảnh hưởng khác. Sau khi đọc xong phần (1) về phơi sáng, bạn có thể tìm hiểu về độ sâu trường ảnh ở đây.

2. Tốc độ màn trập (Shutter Speed)

Ánh sáng đi qua lens (ống kính), tiếp tục đi tới màn trập. Màn trập có tác dụng đóng mở nhanh chậm để xác định lượng ánh sáng sẽ tiếp tục đi vào sensor (cảm biến).

Bạn có thể tưởng tượng khẩu độ giống như đường kính của ống nước, còn màn trập là một cái van khóa. Van mở càng lâu thì nước chảy vào nhiều, van mở trong thời gian ngắn thì nước chảy vào ít.

Tương tự ta có, nếu tốc độ màn trập càng ngắn (nhanh) thì ánh sáng đi vào sẽ ít. Nếu mở lâu thì ánh sáng đi vào nhiều.

Tốc độ màn trập
Ảnh hưởng của tốc độ màn trập đến độ phơi sáng

Giá trị của tốc độ màn trập có thể từ 1/4000s, 1/2000s cho tới hàng chục giây. Trường hợp đặc biệt chụp phơi sáng có thể để màn trập mở hàng giờ.

Hiệu ứng khác của tốc độ màn trập là motion blur. Đối với các đối tượng chuyển động, nếu ta muốn đóng băng chuyển động đó và chụp nét thì cần một tốc độ màn trập đủ nhanh.

Đối với chụp street đời thường thì có thể set tối thiểu giá trị 1/125s để ảnh không bị mờ do chuyển động. Chụp thể thao với các chuyển động cực nhanh thì cần tốc độ nhanh hơn nhiều, ví dụ 1/1000s hay 1/2000s hoặc nhanh hơn nữa.

3. Độ nhạy sáng ISO

Ánh sáng đi qua khẩu, tiếp tục đi qua màn trập, và rồi đập vào cảm biến (sensor). Ở cảm biến, có một thuộc tính thể hiện sự nhạy cảm với ánh sáng gọi là ISO.

ISO thì rất dễ hiểu, tăng giá trị lên thì độ phơi sáng cũng sẽ tăng.

ISO

Nhưng ISO tăng quá cao cũng làm giảm chất lượng hình ảnh. ISO càng cao, ảnh càng bị nhiễu hay còn gọi là bị “noise”. Do vậy ta luôn muốn chụp với ISO thấp nhất có thể để giữ ảnh ở chất lượng tốt nhất.

Ở điều kiện thời tiết đẹp, có nắng, có thể để ISO 100 – 200. Khi trời tối, trong điều kiện thiếu sáng, cần đẩy ISO cao lên để hấp thụ ánh sáng tốt hơn.

Kết hợp ba yếu tố

Mục đích của chúng ta là chụp được một bức ảnh đúng sáng bằng cách kết hợp ba yếu tố trên. Ảnh dư sáng hay thiếu sáng thì đều làm mất chi tiết của ảnh.

Trên các máy ảnh kỹ thuật số hiện đại đều có một công cụ đo sáng (hay light meter) hiển thị trên màn hình. Nó có dạng như một trục số.

Dựa vào thước đo sáng này, ta có thể biết được các thông số đang thiết lập có cho ảnh đúng sáng hay không.

Lưu ý: thước đo sáng này chỉ hoạt động trong chế độ M. Trong các chế độ auto và ưu tiên (sẽ được nói đến ở phần 2), do máy ảnh đã tự động cân bằng các yếu tố nên kim sẽ luôn chỉ ở chính giữa, ảnh luôn được cho là đúng sáng.

Trong phần này, mình giả định đang sử dụng chế độ M để các bạn dễ hiểu về cách kết hợp các yếu tố.

Bây giờ bạn đã biết tác dụng của ba yếu tố, có thể thử nghiệm như sau:

Đầu tiên, chuyển máy ảnh sang chế độ M (thủ công), xem hướng dẫn của máy nhé, rất nhanh thôi.

Sau đó thực hiện các điều chỉnh cho lần lượt khẩu độ, tốc độ màn trập, ISO, và quan sát sự dịch chuyển của kim đo sáng. Bạn sẽ thấy các ảnh hưởng như sau

  • Mở dần khẩu độ sẽ làm kim đo sáng dịch chuyển về phía chiều dương và ngược lại.
  • Giảm tốc độ màn trập sẽ làm kim đo sáng dịch chuyển về phía chiều dương và ngược lại.
  • Tăng ISO sẽ làm kim đo sáng dịch chuyển về phía chiều dương và ngược lại.

Mỗi lần kim đo sáng dừng lại ở chính giữa, tức là bộ ba giá trị lúc đó đang cho một kết quả đúng sáng.

Như vậy, sẽ có rất rất nhiều cách kết hợp để tạo ra một bức ảnh đúng sáng.

Vấn đề là mỗi yếu tố còn có một ảnh hưởng nữa đến ảnh:

  • Khẩu độ ảnh hưởng đến độ sâu trường ảnh
  • Tốc độ màn trập có thể đóng băng chuyển động hoặc tạo ra vết nhòe chuyển động.
  • ISO tạo ra nhiễu ảnh, noise

Do đó, ta chỉ có thể điều chỉnh mỗi yếu tố này trong một giới hạn nhỏ mà thôi. Cách chọn mỗi yếu tố này, hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích chụp.

Ví dụ: nếu bạn muốn chụp xóa phông, bạn phải ưu tiên để khẩu độ trong khoảng [f/1.4 – f/2.4], muốn ảnh không bị rung khi cầm bằng tay, tốc độ màn trập phải tối thiểu nên là 1/125s…

Hãy đọc kỹ ba bài về Khẩu độ, Tốc độ màn trập và ISO mình đã dẫn link ở các đề mục để hiểu rõ về tác dụng của mỗi yếu tố. Khi đã hiểu rồi thì bạn sẽ biết cách kết hợp sao cho đúng.

Phần 2. Các chế độ chụp

Sau khi nắm được nguyên tắc phơi sáng, phần tiếp theo là học cách sử dụng các chế độ chụp có trong máy ảnh.

Các chế độ chụp

Các chế độ chụp của các hãng máy ảnh khác nhau có thể khác nhau về số lượng và tên gọi, nhưng thường đều có 4 chế độ (mode):

  1. Full-Auto: Tự động điều chỉnh tất cả thông số dựa vào tính toán của máy. Đọc xong series này thì anh em có thể tự tin vứt bỏ mode này được rồi.
  2. Aperture Priority: Chế độ chụp ưu tiên khẩu độ. Bạn chỉ cần set trước khẩu độ, tốc độ màn trập và ISO sẽ được tự động tính để cho ra kết quả đúng sáng.
  3. Shutter Priority: Hoạt động tương tự như chế độ ưu tiên khẩu độ như áp dụng cho tốc độ màn trập.
  4. Manual: Chỉnh tay tất cả các thông số.

Lưu ý là tên gọi của các chế độ AP và SP có thể khác nhau tùy theo hãng nhưng chức năng thì vẫn như trên. Bạn cần đọc hướng dẫn sử dụng máy ảnh từ hãng để biết thêm.

Full-Auto là chế độ ta có thể bỏ qua.

Nhiều người cho rằng chỉ nên chụp M (Manual) nhưng cá nhân mình thấy mỗi chế độ đều có đất diễn cho riêng mình.

Mình dùng mode AP khá nhiều. Khi ánh sáng đủ tốt, ví dụ một ngày trời đẹp, quang mây, và mục đích là chụp cảnh hay chân dung, thì ta không cần quan tâm quá nhiều đến tốc độ màn trập nữa.

Chỉ cần ưu tiên set khẩu cho đúng mục đích chụp, ISO vừa phải, còn tốc độ màn trập có thể để máy ảnh tự tính. Khi đó ta có thể chụp rất nhanh vì không phải điều chỉnh nhiều.

Tóm lại, nắm được nguyên tắc đo sáng và các hiệu ứng tạo ra từ 3 yếu tố thì bạn sẽ biết cách sử dụng các chế độ này sao cho hợp lý.

Tìm hiểu thêm về các chế độ chụp, ưu và nhược điểm, khi nào nên sử dụng.

Phần 3: Các chế độ đo sáng

Với những trường hợp thông thường khi trong khung hình không có sự chênh lệch lớn về cường độ sáng giữa các vùng, máy ảnh có thể đoán được một kết quả đúng sáng là như thế nào.

3 chế độ đo sáng cho ra 3 kết quả “đúng sáng” khác nhau.

Nhưng với những khung hình có độ chênh lệch cường độ sáng lớn, ví dụ khi chụp ngược sáng, ta cần phải chọn một chế độ đo sáng phù hợp để ra lệnh cho máy ảnh biết đo sáng vào vùng nào là chính xác.

Ví dụ nếu muốn đo sáng dựa vào chủ thể thì bạn phải sử dụng chế độ đo sáng điểm – Spot Metering Mode. Chế độ này sẽ đo sáng dựa vào một điểm xác định trước và bỏ qua phần còn lại của khung hình.

Ngoài chế độ đo sáng điểm, máy ảnh kỹ thuật số còn có nhiều chế độ đo sáng khác, cho các điều kiện ánh sáng khác nhau.

Tìm hiểu về các chế độ đo sáng của máy ảnh.

Phần 4: Lấy nét

Có hai cách để lấy nét trên máy ảnh:

  1. AF – Auto Focus: Tự động lấy nét. Bạn xác định điểm hoặc vùng lấy nét trên khung hình bằng cách di chuyển điểm lấy nét và bấm hờ nút chụp.
  2. MF – Manual Focus: Lấy nét thủ công. Khi máy ảnh không thể nhận diện được điểm lấy nét, hoặc lấy nét nhầm, ta phải dùng ring trên lens để điều chỉnh khoảng lấy nét bằng tay.

Lấy nét tự động – AF

Với AF, thường có hai chế độ là AF-S và AF-C.

AF-S (S trong Single): Đây là chế độ lấy nét được sử dụng nhiều nhất. Nếu đối tượng lấy nét không chuyển động, bạn chỉ cần đưa điểm lấy nét vào đối tượng, bấm nửa nút chụp để lấy nét và bấm nốt nửa còn lại để chụp.

AF-C (C trong Continuous): Đây là chế độ lấy nét được sử dụng khi chụp các đối tượng chuyển động. Khi bạn bấm nửa nút chụp, máy ảnh sẽ ghi nhớ đối tượng và tiếp tục bám theo nó trong khung hình để lấy nét. Dùng mode này để hạn chế tối đa khả năng out net khi đối tượng di chuyển.

Lấy nét thủ công – MF

Trên lens có một vòng lấy nét được dùng cho việc lấy nét thủ công. Bằng cách nhìn qua khung ngắm và xoay vòng lấy nét này, bạn có thể điều chỉnh được khoảng cách lấy nét cho đúng.

Không phải lúc nào AF cũng làm tốt công việc của mình, và những lúc như thế chúng ta phải sử dụng MF. Một số trường hợp mà AF bất lực còn MF thể hiện được vai trò:

  • Đối tượng lấy nét có độ tương phản thấp, máy ảnh chịu không nhận diện được.
  • Đối tượng lấy nét bị vật cản, chẳng hạn như tấm lưới. AF không chịu bắt nét vào phía sau và toàn đè tấm lưới mà chịch.
  • Nếu bạn đã chọn được một khung hình, chỉ đợi đối tượng di chuyển vào đúng chỗ là chụp, cách tốt nhất là dùng MF định sẵn vị trí lấy nét.

Phần 5: Cân bằng trắng – White Balance

Cân bằng trắng là một thiết lập quan trọng nhưng thường bị bỏ quên. Bản thân mình cũng một thời gian dài coi nhẹ, chỉ chụp Auto White Blance – tức là để cho máy ảnh tự tính toán cân bằng trắng. Đến khi biết để ý và điều chỉnh WB, đúng là chỉ biết nhìn lại những bức ảnh cũ trong tiếc nuối.

Chúng ta đã biết cách chụp đúng sáng, đúng nét, nhưng còn một yếu tố quan trọng khác là màu sắc của bức ảnh. Cách máy ảnh phân tích màu sắc không giống mắt người, và việc của chúng ta là chỉ cho nó cách đọc sao cho giống nhất có thể thông qua WB.

Nguồn sáng ảnh hưởng mạnh đến màu sắc của bức ảnh. Nhiều khi Auto WB không thể trả lại màu sắc thực tế nhất, ảnh bị ám tím, ám vàng,… và cũng khó có thể khắc phục bằng hậu kỳ.

Hiểu về WB, ta có thể điều chỉnh ảnh màu sắc của ảnh theo cảm nhận của mình.

Link bài tìm hiểu về cân bằng trắng.

To be continued…

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of