Nhiếp ảnh cơ bản: Học chụp cho người mới

Học chụp ảnh cho người mới

Bạn mới mua máy ảnh? Bạn mới chụp được mấy tấm đầu đen xì thiếu sáng, out nét mà bạn bè đã dìm ngay: “Máy ảnh gì chụp không bằng ai phôn!!! >.<

Đừng lo, mình sẽ giúp bạn phục thù bằng series học chụp ảnh này. Đây là một bài viết khá là chi tiết và có chiều sâu, ae có thể bookmark lại để tra cứu khi cần 😉

Học chụp ảnh cũng kiểu kiểu như luyện võ công, đầu tiên phải lấy căn cơ nội công làm gốc, sau đó mới học đến khẩu quyết chiêu thức. Làm ngược lại không tránh khỏi “tẩu hỏa nhập ma”. Theo kiến thức đọc truyện kiếm hiệp của mình thì sơ sơ là vậy.

Thì bài viết này chính là để cung cấp cho anh em “căn cơ nội công” của môn chụp ảnh. Đây là những kiến thức cơ bản, nên dù bạn chụp máy phim hay chụp máy kỹ thuật số, dùng máy DSLR hay Mirrorless đều có thể áp dụng.

Bắt đầu thôi!

Phần 1. Phơi sáng – Exposure

Phơi sáng thực ra chính là chụp ảnh. Kết quả của mỗi thao tác phơi sáng là một bức ảnh.

Về ý nghĩa, có thể hiểu đơn giản phơi sáng là xác định lượng ánh sáng mà bức ảnh sẽ có. Khi phơi sáng đúng, ta có bức ảnh đúng sáng, đầy đủ chi tiết và màu sắc.

Phơi sáng sai, có thể là thiếu hoặc dư sáng, thì ảnh sẽ bị mất chi tiết. Đây là một ví dụ cùng một khung hình khi chụp thiếu sáng, đúng sáng, và dư sáng.

Phơi sáng

Đó là lý do tại sao khi chưa biết chụp, ảnh của chúng ta lại đen thui hay cháy sáng tùm lum “không bằng ai phône”.

Cách máy ảnh hoạt động

Cách máy ảnh hoạt động

Bên trên là cấu trúc của máy ảnh SLR. Khi ta ngắm bằng ống ngắm (viewfinder) thì tấm gương sẽ phản chiếu ánh sáng lên khối lăng trụ và truyền lên trên. Khi bấm chụp thì gương sẽ lật lên để ánh sáng đi thẳng vào màn trập và cảm biến.

Như vậy, trong một thao tác chụp, ánh sáng sẽ đi qua ống kính (lens), rồi đi qua màn trập (shutter), và cuối cùng là đập vào cảm biến (sensor). Tại ba “chốt” này, ta sẽ điều chỉnh được “lượng ánh sáng” đi vào hay độ phơi sáng của bức ảnh.

☞ Độ phơi sáng phụ thuộc vào ba yếu tố.

  1. Aperture – Khẩu độ của ống kính.
  2. Shutter speed – Tốc độ đóng màn trập.
  3. ISO – Độ nhạy sáng của cảm biến. (Trên máy film là ASA hay film speed)

Ba yếu tố này tạo thành tam giác phơi sáng – Exposure Triangle. Và để có độ phơi sáng đúng, cần biết điều chỉnh kết hợp ba yếu tố kể trên.

Tam giac phoi sang
Tam giác phơi sáng

Khi bạn chụp chế độ Auto trên máy ảnh, máy sẽ tự động điều chỉnh giá trị của ba yếu tố này sao cho chúng kết hợp với nhau để tạo ra bức ảnh đúng sáng.

Vậy tại sao không chụp Auto luôn cho nhanh mà phải học cách điều chỉnh? Lý do là 3 yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến độ phơi sáng mà mỗi thằng còn tạo ra một hiệu ứng khác nữa.

  1. Khẩu độ -> Độ sâu trường ảnh. Chụp xóa phông, bokeh thì quan tâm cái này.
  2. Tốc độ màn trập -> có thể thay đổi để bắt chuyển động ở tốc độ cao hoặc phơi sáng trong thời gian dài.
  3. ISO -> Độ nhiễu của ảnh.

Tức là với mục đích chụp khác nhau, chúng ta cần ưu tiên cố định một hay hai trong ba giá trị này chứ không để máy tự động điều chỉnh. Tính toán các thứ thì khá ngon, nhưng khoản đoán ý đồ của đối phương thì máy ảnh cũng ngu như đa số các anh em khi tán gái.

Khi hiểu được tác dụng của mỗi yếu tố này, bạn có thể chuyển từ chụp Auto sang chụp Manual (chỉnh tay), chụp được ảnh đúng sángđúng mục đích.

Khẩu độ – Aperture

Bắt đầu với yếu tố đầu tiên là khẩu độ. Nhìn vào bên trong ống kính, bạn có thể thấy được một lỗ hổng được tạo ra bởi các lá kim loại.

Khẩu độ

Độ rộng của lỗ hổng này gọi là khẩu độ, các lá kim loại gọi là lá khẩu. Việc đóng mở các lá khẩu ảnh hưởng đến độ rộng của lỗ hổng, hay làm thay đổi khẩu độ.

Khẩu độ ảnh hưởng đến 2 thứ cùng lúc là độ phơi sáng và độ sâu trường ảnh. Phần này, chúng ta sẽ quan tâm đến việc khẩu độ ảnh hưởng thế nào đến độ phơi sáng trước.

Khẩu độ càng lớn, thì ánh sáng đi vào càng nhiều => Với điều kiện tốc độ màn trập và ISO không thay đổi, tăng khẩu độ sẽ làm ảnh sáng hơn, giảm khẩu độ sẽ làm ảnh tối đi.

Đến đây khá là ez nhưng phần hack não hơn là giá trị của khẩu độ. Trên vòng chỉnh khẩu độ ở lens, các bạn sẽ thấy dãy các số: 1.4, 2, 2.8, 4, 5.6, 8, 11, 16, 22….

Ứng với chúng là các giá trị của khẩu độ tại f/1.4, f/2, f/2.8, f/4, f/5.6, f/8, f/11, f/16, f/22. Có trường hợp người ta bỏ dấu / đi.

  • Số dưới f càng bé thì khẩu độ càng lớn. Trong dãy trên khẩu độ lớn nhất là f/1.4.
  • Số dưới f càng lớn thì khẩu độ càng bé. Trong dãy trên khẩu độ bé nhất là f/22.

Trong tên của lens, người ta chỉ ghi khẩu độ lớn nhất của lens. Ví dụ lens Nikkor 85mm f/1.8 thì khẩu độ lớn nhất mà lens có thể đạt được là f/1.8.

Một cách dễ để nhớ sự biến đổi có vẻ phức tạp này là: Mẫu số càng lớn thì giá trị của nó càng nhỏ và ngược lại – như toán phân số thời cấp 1 luôn.

Chốt: Số dưới f càng nhỏ => Khẩu độ càng lớn => Ánh sáng vào càng nhiều. Và ngược lại.

Ngoài ảnh hưởng đến độ phơi sáng, thay đổi khẩu độ còn làm thay đổi độ sâu trường ảnh. Bên dưới là các bài viết chi tiết hơn mà ae nên đọc sau khi đã nghiên cứu xong về phần 1- Phơi sáng.

Tốc độ màn trập – Shutter Speed

Ánh sáng đi qua lens (ống kính), tiếp tục đi tới màn trập. Màn trập có tác dụng đóng mở nhanh chậm để xác định lượng ánh sáng sẽ tiếp tục đi vào sensor (cảm biến).

Bạn có thể tưởng tượng khẩu độ giống như đường kính của ống nước, còn màn trập là một cái van. Van mở càng lâu thì nước chảy vào nhiều, van mở trong thời gian ngắn thì nước chảy vào ít.

Tương tự ta có, nếu tốc độ màn trập càng ngắn (nhanh) thì ánh sáng đi vào sẽ ít. Nếu mở lâu thì ánh sáng đi vào nhiều.

Tốc độ màn trập
Ảnh hưởng của tốc độ màn trập đến độ phơi sáng

Giá trị của tốc độ màn trập có thể từ 1/4000s, 1/2000s cho tới hàng chục giây. Trường hợp đặc biệt chụp phơi sáng có thể để màn trập mở hàng giờ.

Hiệu ứng khác của tốc độ màn trập là motion blur. Đối với các đối tượng chuyển động, nếu ta muốn đóng băng chuyển động đó và chụp nét thì cần một tốc độ màn trập đủ nhanh.

Đối với chụp street đời thường thì có thể set tối thiểu giá trị 1/125s để ảnh không bị mờ do chuyển động. Chụp thể thao với các chuyển động cực nhanh thì cần tốc độ nhanh hơn nhiều, ví dụ 1/1000s hay 1/2000s hoặc nhanh hơn nữa.

ISO – Độ nhạy sáng

Ánh sáng đi qua khẩu, tiếp tục đi qua màn trập, và rồi đập vào cảm biến (sensor).

ISO thì rất dễ hiểu, tăng giá trị lên thì độ phơi sáng cũng sẽ tăng.

ISO

Nhưng ISO tăng cũng làm giảm chất lượng hình ảnh. ISO càng cao, ảnh càng bị nhiễu hay có nhiều “grain”. Do vậy ta luôn muốn chụp với ISO thấp nhất có thể để giữ ảnh ở chất lượng tốt nhất.

Ở điều kiện thời tiết đẹp, có nắng, có thể để ISO 100 – 200. Khi trời tối, trong điều kiện thiếu sáng, cần đẩy ISO cao lên để hấp thụ ánh sáng tốt hơn.

Kết hợp khẩu độ, tốc độ màn trập và ISO

Chúng ta có thể để máy ảnh tự chọn ra các giá trị cho ba yếu tố trên trong chế độ Full-Auto. Nhưng bài viết này là để giúp bạn kiểm soát từng yếu tố và chụp tốt hơn.

Trên màn hình hay ống ngắm (viewfinder) của máy ảnh có hiển thị một thước đo sáng (light meter), trông như thế này:

Nếu vạch chỉ ở chính giữa thì các giá trị của khẩu độ, tốc độ màn trập và ISO đang cho kết quả đúng sáng. Nếu vượt quá thì là dư sáng, thấp hơn là thiếu sáng.

Qua một ví dụ dưới đây bạn sẽ hiểu về cách điều chỉnh giá trị.

Bạn dẫn gấu đi du lịch, gấu nhờ bạn chụp ảnh với phong cảnh ở phía sau. Sau một hồi loay hoay chỉnh các thông số, bạn thấy combo giá trị [Khẩu F4 – Tốc 1/250 – ISO 400] cho giá trị đúng sáng trên thước đo sáng.

Tuy đúng sáng nhưng nếu để giá trị như vậy, lấy nét vào mẫu thì cảnh đằng sau sẽ bị out net (hay xóa phông) và ngược lại, do khẩu đang mở khá lớn ở F4.

Logic khắc phục vấn đề sẽ như thế này:

  1. Cần lấy nét cả mẫu và background
  2. => Cần độ sâu trường ảnh – DOF sâu
  3. => Phải khép khẩu nhỏ hơn F4
  4. => Ảnh bị thiếu sáng do giữ nguyên giá hai giá trị ISO và tốc và giảm khẩu độ
  5. => Điều chỉnh tốc độ màn trập hoặc ISO để bù lại lượng ánh sáng đã mất do khép khẩu.

Bạn có thể khép khẩu xuống F11, vì ở F11 độ sâu trường ảnh là khá tốt để lấy nét cả mẫu và cảnh. Sau đó bạn cần thực hiện một trong các thao tác sau để bù sáng:

  • tăng ISO
  • giảm tốc độ màn trập
  • kết hợp điều chỉnh cả hai

Công việc là thay đổi các giá trị của hai yếu tố này, cho đến khi thấy kim đo sáng thể hiện đúng sáng.

Ví dụ bên trên là một trường hợp ưu tiên khẩu độ, sẽ có trường hợp khác bạn cần ưu tiên cho tốc độ màn trập, hoặc thay đổi cả hai để đạt được kết quả tốt nhất cho mục đích chụp.

Ở đây, mình giải thích khá đơn giản việc kết hợp ba yếu tố phơi sáng. Anh em nên đọc tiếp bài viết về hệ thống stop trong đo sáng để hiểu thêm.

Phần 2. Các chế độ phơi sáng

Sau khi nắm được nguyên tắc phơi sáng, phần tiếp theo là học cách sử dụng các chế độ phơi sáng có trong máy ảnh. Hay thường gọi là các chế độ chụp.

Các chế độ chụp

Các chế độ chụp của các hãng máy ảnh khác nhau có thể khác nhau về số lượng và tên gọi, nhưng thường đều có 4 chế độ (mode):

  1. Full-Auto: Tự động điều chỉnh tất cả thông số dựa vào tính toán của máy. Đọc xong series này thì anh em có thể tự tin vứt bỏ mode này được rồi.
  2. Aperture Priority: Chế độ chụp ưu tiên khẩu độ. Bạn chỉ cần set trước khẩu độ, tốc độ màn trập và ISO sẽ được tự động tính để cho ra kết quả đúng sáng.
  3. Shutter Priority: Hoạt động tương tự như chế độ ưu tiên khẩu độ như áp dụng cho tốc độ màn trập.
  4. Manual: Chỉnh tay tất cả các thông số.

Lưu ý là tên gọi của các chế độ AP và SP có thể khác nhau tùy theo hãng nhưng chức năng thì vẫn như trên. Bạn cần đọc hướng dẫn sử dụng máy ảnh từ hãng để biết thêm.

Full-Auto là chế độ ta có thể bỏ qua.

Nhiều người cho rằng chỉ nên chụp M (Manual) nhưng cá nhân mình thấy mỗi chế độ đều có đất diễn cho riêng mình.

Mình dùng mode AP khá nhiều. Khi ánh sáng đủ tốt, ví dụ một ngày trời đẹp, quang mây, và mục đích là chụp cảnh hay chân dung, thì ta không cần quan tâm quá nhiều đến tốc độ màn trập nữa. Chỉ cần ưu tiên set khẩu cho đúng mục đích chụp, ISO vừa phải, còn tốc độ màn trập có thể để máy tự tính. Khi đó ta có thể chụp rất nhanh vì không phải điều chỉnh nhiều.

Tóm lại, nắm được nguyên tắc đo sáng và các hiệu ứng tạo ra từ 3 yếu tố thì bạn sẽ biết cách sử dụng các chế độ này sao cho hợp lý.

Tìm hiểu thêm về các chế độ chụp, ưu và nhược điểm, khi nào nên sử dụng. [link]

Phần 3: Các chế độ đo sáng

Với những trường hợp thông thường khi trong khung hình không có sự chênh lệch lớn về cường độ sáng giữa các vùng, máy ảnh có thể đoán được một kết quả đúng sáng là như thế nào.

3 chế độ đo sáng cho ra 3 kết quả “đúng sáng” khác nhau.

Nhưng với những khung hình có độ chênh lệch cường độ sáng lớn, ví dụ khi chụp ngược sáng, ta cần phải chọn một chế độ đo sáng phù hợp để ra lệnh cho máy ảnh biết đo sáng vào vùng nào là chính xác.

Ví dụ nếu muốn đo sáng dựa vào chủ thể thì bạn phải sử dụng chế độ đo sáng điểm – Spot Metering Mode. Chế độ này sẽ đo sáng dựa vào một điểm xác định trước và bỏ qua phần còn lại của khung hình.

Ngoài chế độ đo sáng điểm, máy ảnh kỹ thuật số còn có nhiều chế độ đo sáng khác, cho các điều kiện ánh sáng khác nhau.

Hiểu về các chế độ đo sáng của máy ảnh [link]

Phần 4: Lấy nét

Có hai cách để lấy nét trên máy ảnh:

  1. AF – Auto Focus: Tự động lấy nét. Bạn xác định điểm hoặc vùng lấy nét trên khung hình bằng cách di chuyển điểm lấy nét và bấm hờ nút chụp.
  2. MF – Manual Focus: Lấy nét thủ công. Khi máy ảnh không thể nhận diện được điểm lấy nét, hoặc lấy nét nhầm, ta phải dùng ring trên lens để điều chỉnh khoảng lấy nét bằng tay.

Lấy nét tự động – AF

Với AF, thường có hai chế độ là AF-S và AF-C.

AF-S (S trong Single): Đây là chế độ lấy nét được sử dụng nhiều nhất. Nếu đối tượng lấy nét không chuyển động, bạn chỉ cần đưa điểm lấy nét vào đối tượng, bấm nửa nút chụp để lấy nét và bấm nốt nửa còn lại để chụp.

AF-C (C trong Continuous): Đây là chế độ lấy nét được sử dụng khi chụp các đối tượng chuyển động. Khi bạn bấm nửa nút chụp, máy ảnh sẽ ghi nhớ đối tượng và tiếp tục bám theo nó trong khung hình để lấy nét. Dùng mode này để hạn chế tối đa khả năng out net khi đối tượng di chuyển.

Lấy nét thủ công – MF

Trên lens có một vòng lấy nét được dùng cho việc lấy nét thủ công. Bằng cách nhìn qua khung ngắm và xoay vòng lấy nét này, bạn có thể điều chỉnh được khoảng cách lấy nét cho đúng.

Không phải lúc nào AF cũng làm tốt công việc của mình, và những lúc như thế chúng ta phải sử dụng MF. Một số trường hợp mà AF bất lực còn MF thể hiện được vai trò:

  • Đối tượng lấy nét có độ tương phản thấp, máy ảnh chịu không nhận diện được.
  • Đối tượng lấy nét bị vật cản, chẳng hạn như tấm lưới. AF không chịu bắt nét vào phía sau và toàn đè tấm lưới mà chịch.
  • Nếu bạn đã chọn được một khung hình, chỉ đợi đối tượng di chuyển vào đúng chỗ là chụp, cách tốt nhất là dùng MF định sẵn vị trí lấy nét.

Phần 5: Cân bằng trắng – White Balance

Cân bằng trắng là một thiết lập quan trọng nhưng thường bị bỏ quên. Bản thân mình cũng một thời gian dài coi nhẹ, chỉ chụp Auto White Blance – tức là để cho máy ảnh tự tính toán cân bằng trắng. Đến khi biết để ý và điều chỉnh WB, đúng là chỉ biết nhìn lại những bức ảnh cũ trong tiếc nuối.

Chúng ta đã biết cách chụp đúng sáng, đúng nét, nhưng còn một yếu tố quan trọng khác là màu sắc của bức ảnh. Cách máy ảnh phân tích màu sắc không giống mắt người, và việc của chúng ta là chỉ cho nó cách đọc sao cho giống nhất có thể thông qua WB.

Nguồn sáng ảnh hưởng mạnh đến màu sắc của bức ảnh. Nhiều khi Auto WB không thể trả lại màu sắc thực tế nhất, ảnh bị ám tím, ám vàng,… và cũng khó có thể khắc phục bằng hậu kỳ.

Hiểu về WB, ta có thể điều chỉnh ảnh màu sắc của ảnh theo cảm nhận của mình. [link]

To be continued…

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of